Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn XDCB. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn XDCB. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 16 tháng 3, 2011

Nâng cao hiệu quả Thanh tra dự án sử dụng vốn đầu tư nhà nước

Một là, cần quy định rõ và cụ thể hóa nội hàm khái niệm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành theo tinh thần của Luật Thanh tra (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực từ 1/7/2011, sao cho phù hợp với thực tiễn và yêu cầu cải cách hành chính, tạo cơ sở pháp lý để xác định mục tiêu, nội dung, đối tượng và phân cấp thẩm quyền trong hoạt động thanh tra.
Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra trong nội bộ bộ máy nhà nước; là thanh tra của cơ quan cấp trên đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân cấp dưới (thuộc quyền quản lý trực tiếp); hướng vào việc xem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật, nhiệm vụ cũng như hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Đối tượng của hoạt động thanh tra hành chính phải là các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước. Vì vậy, thanh tra hành chính mang tính kiểm soát nội bộ, với mục đích cụ thể là nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của bộ máy hành chính, bảo đảm kỷ cương, kỷ luật trong quản lý, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước.

Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra hướng vào việc xem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật chuyên ngành, với phạm vi đối tượng là mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra chuyên ngành do các cơ quan thanh tra thuộc các cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực thực hiện. 

Hai là, cần ban hành một văn bản quy phạm pháp luật (có thể là nghị định hoặc thông tư liên tịch) điều chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước, trong đó:
- Phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi đối tượng, nội dung thanh tra của từng cơ quan thanh tra và từng loại hình thanh tra (hành chính hoặc chuyên ngành) khi thanh tra dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước. Quy định cụ thể và thực hiện có hiệu quả hai chức năng cơ bản của Thanh tra Chính phủ: (1) chức năng quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động thanh tra trên phạm vi cả nước (xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về thanh tra; chỉ đạo, giám sát, kiểm tra các kết luận của cơ quan thanh tra chuyên ngành; điều phối hoạt động thanh tra, xử lý sai phạm sau thanh tra v.v…); (2) chức năng thanh tra hành chính đối với các bộ, cơ quan nganh bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh để giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác quản lý nhà nước.
Trong giai đoạn trước mắt, khi mà năng lực của cơ quan thanh tra chuyên ngành chưa tương xứng với nhiệm vụ và phạm vi đối tượng thanh tra, thì cơ quan thanh tra hành chính cần tiếp tục tham gia vào hoạt động thanh tra chuyên ngành; vì vậy đối với thanh tra chuyên ngành về tài chính đầu tư xây dựng, cần quy định đối với những dự án đặc biệt, dự án nhóm A và các dự án khác có vấn đề nổi cộm (phức tạp) sẽ do Thanh tra Chính phủ và Thanh tra các Bộ Tài chính, Xây dựng, Kế hoạch và Đầu tư tiến hành thanh tra, kiểm tra; Thanh tra các bộ khác và các cơ quan thanh tra ở địa phương (Thanh tra tỉnh, Thanh tra sở, Thanh tra huyện) tiến hành thanh tra các dự án nhóm B, C thuộc phạm vi quản lý trực tiếp của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp.
Về lâu dài, cần sửa đổi cơ chế này theo hướng: Các cơ quan thanh tra thành lập theo cấp hành chính chỉ tập trung vào nhiệm vụ giám sát hành chính (giám sát sự tuân thủ pháp luật) đối với các cơ quan hành chính nhà nước thuộc phạm vi quản lý trực tiếp của thủ trưởng cấp hành chính cùng cấp; thực hiện chức năng thanh tra hành chính hướng vào xem xét việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của các cơ quan thuộc phạm vi quản lý trực tiếp của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cầp. Khi đó, nhiệm vụ thanh tra dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước nên giao cho các cơ quan thanh tra chuyên ngành. Do chức năng quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng ở nước ta hiện nay chủ yếu liên quan đến ngành Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Xây dựng; nên nhiệm vụ thanh tra tài chính dự án đầu tư xây dựng cần tập trung cho cơ quan thanh tra thuộc các ngành này thực hiện. Tuy nhiên, để có cơ sở xác định rõ hơn nhiệm vụ, nội dung thanh tra của các cơ quan thanh tra chuyên ngành đối với dự án đầu tư xây dựng, cần thiết phân định rõ hơn thẩm quyền quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng của các bộ, ngành chức năng liên quan (Xây dựng, Tài chính và Kế hoạch và Đầu tư). Thanh tra các ngành này cần bám sát chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ được pháp luật quy định để xác định nội dung thanh tra cho phù hợp, vừa phục vụ thiết thực cho công tác quản lý nhà nước của Bộ, vừa hạn chế được sự chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động.
- Quy định rõ phạm vi, nội dung thanh tra đối với mỗi dự án đầu tư phải được thể hiện trong quyết định thanh tra và kết luận thanh tra; kết luận phải chỉ rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến những sai phạm (không chỉ đề cập đến trách nhiệm của các doanh nghiệp nhà thầu, các ban quản lý dự án mà còn là đánh giá trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan). Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của thanh tra viên, Trưởng đoàn thanh tra, thủ trưởng cơ quan thanh tra khi đưa ra kết luận sai, gây thiệt hại cho đối tượng thanh tra hoặc khi không kết luận được sai phạm gây thiệt hại cho Nhà nước... Những quy định này nhằm bảo đảm cho kết luận thanh tra rõ ràng, đúng pháp luật về những nội dung đã thanh tra; giúp cho các đoàn thanh tra sau có thể kế thừa kết quả của đoàn thanh tra trước, tránh được chồng chéo về nội dung và thời kỳ thanh tra khi tiến hành cuộc thanh tra tiếp theo đối với mỗi dự án.
Ba là, ban hành quy chế phối hợp giữa các cơ quan thanh tra nhà nước trong hoạt động thanh tra kinh tế nói chung và trong thanh tra lĩnh vực quản lý vốn đầu tư xây dựng nói riêng, tạo ra cơ sở pháp lý để thực hiện mối quan hệ phối hợp chặt chẽ, bảo đảm hoạt động thanh tra thống nhất, có hiệu quả, hiệu lực.

Quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan thanh tra từ khâu nắm bắt đối tượng, xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm đến khâu ra quyết định thanh tra, tập huấn nghiệp vụ, tổ chức thực hiện quyết định thanh tra, xử lý sai phạm sau thanh tra và tổng hợp, đánh giá, kiến nghị tăng cường quản lý nhà nước. Xác định rõ vai trò quản lý nhà nước về hoạt động thanh tra của Thanh tra Chính phủ trong việc chỉ đạo, điều hành, điều phối hoạt động thanh tra của các tổ chức thanh tra. Thanh tra Chính phủ thực hiện điều phối nhiệm vụ thanh tra đối với các dự án đầu tư ngay từ khâu xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm, muốn vậy cần quy định trước khi phê duyệt kế hoạch thanh tra của các Bộ thì cần có ý kiến bằng văn bản của Thanh tra Chính phủ. Để giúp cho công tác quản lý nhà nước về hoạt động thanh tra có hiệu quả, cần thiết quy định trách nhiệm của các cơ quan thanh tra trong việc thông tin báo cáo về tình hình, kết quả thanh tra chi tiết theo các lĩnh vực (trong đó có lĩnh vực đầu tư xây dựng); có hướng dẫn rõ ràng về nội dung, phạm vi, thời kỳ, thời hạn và phương thức gửi báo cáo về Thanh tra Chính phủ để tổng hợp chung và định kỳ công khai báo cáo tổng hợp trên cổng thông tin điện tử để phục vụ cho công tác chỉ đạo điều hành và hoạt động nghiệp vụ thanh tra.

Bốn là, Thanh tra Chính phủ tiếp tục phát huy vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động thanh tra trên phạm vi cả nước, nhất là công tác chỉ đạo ngay từ khâu xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm và điều phối trong quá trình tổ chức triển khai kế hoạch thanh tra. Trong thời gian tới, hàng năm Thanh tra Chính phủ nên ban hành một chương trình kế hoạch thanh tra đối với các công trình, dự án trọng điểm của các bộ, ngành, địa phương, đơn vị có sử dụng nguồn vốn lớn của Nhà nước; trên cơ sở đó Thanh tra Chính phủ trực tiếp làm Trưởng đoàn một số đoàn thanh tra liên ngành (có sự tham gia của Bộ quản lý nhà nước chuyên ngành) hoặc chỉ đạo Thanh tra một số Bộ quản lý nhà nước chuyên ngành làm Trưởng đoàn để triển khai thực hiện kế hoạch thanh tra; đồng thời cần tăng cường tập huấn, hướng dẫn và chỉ đạo nghiệp vụ đối với các cơ quan thanh tra./.

Những biểu hiện lãng phí thường gặp trong Đầu tư XDCB


Trong các cuộc họp của Quốc hội những năm gần đây, nhiều đại biểu cũng đã nêu ra con số thất thoát trong xây dựng là 20 - 30% trong tổng số vốn đầu tư. Song để xác định được một tỉ lệ chính xác thì là một vấn đề khó khăn vì thiếu cơ sở khoa học và chứng lý cụ thể.
Trong những năm qua, do tính chất phức tạp của công tác quản lý, mặt khác do ảnh hưởng của cơ chế cũ còn nặng nề nên trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, mặc dù công tác quản lý đầu tư xây dựng đã có những chuyển biến rõ rệt, góp phần đáng kể vào tiến trình phát triển của đất nước nhưng vẫn còn bộc lộ những yếu kém như cơ chế quản lý thiếu đồng bộ, trật tự kỷ cương chưa được tôn trọng, thất thoát lãng phí vốn đầu tư chưa được khắc phục.  
Hiện nay, tình trạng lãng phí, thất thoát vốn đầu tư xây dựng đang là một trong những nguyên nhân làm suy yếu các nguồn lực để phát triển đất nước, nó làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu rõ “Đầu tư ngân sách Nhà nước và đầu tư của doanh nghiệp nhà nước còn dàn trải, thất thoát, kém hiệu quả”. Trong các cuộc họp của Quốc hội những năm gần đây, nhiều đại biểu cũng đã nêu ra con số thất thoát trong xây dựng là 20 - 30% trong tổng số vốn đầu tư. Song để xác định được một tỉ lệ chính xác thì là một vấn đề khó khăn vì thiếu cơ sở khoa học và chứng lý cụ thể. Có thể thấy một số biểu hiện thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng như:
- Thất thoát do công trình được xây dựng không phù hợp về địa điểm và thời điểm: khi quyết định đầu tư do không nghiên cứu kỹ các điều kiện về môi trường, thị trường vùng nguyên liệu, các tài liệu địa chất công trình, địa chất thuỷ văn...nên khi công trình được xây dựng xong không sử dụng hết công suất do công trình không được đặt đúng vào vùng có nguyên liệu, hoặc công trình được khai thác sử dụng nhưng sản phẩm không tiêu thụ được do không có thị trường.
- Thất thoát do quy mô công trình không phù hợp với yêu cầu sử dụng: Dạng thất thoát này là tương đối phổ biến đối với các công trình dân dụng, các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và các công trình sản xuất. Nhiều nơi đã xây dựng các công trình văn hoá mà không có người đến sinh hoạt, các nhà thi đấu rất lớn nhưng rất ít người đến tập và thậm chí các nơi vui chơi giải trí, sân vận động cũng xảy ra trường hợp tương tự. Còn đối với các công trình sản xuất, tình trạng hoạt động của nhà máy không hết công suất thiết kế rất phổ biến ở tất cả các lĩnh vực như: nhà máy xi măng lò đứng, nhà máy đường, nhà máy nước, nhà máy gạch tuy nen...
- Thất thoát lãng phí do công trình không đảm bảo chất lượng: Do công trình có chất lượng kém nên các mục tiêu được đặt ra ban đầu không thực hiện được, kinh phí bỏ ra xây dựng thì lớn nhưng chi phí vào công trình bị bớt xén hoặc trong quá trình thiết kế, do điều tra số liệu không kỹ, người thiết kế lại thiếu trách nhiệm hoặc trình độ hạn chế đã đưa ra những kết quả không tối ưu và dẫn đến chất lượng công trình không tương xứng với kinh phí bỏ ra, thậm chí còn ảnh hưởng đến sức khoẻ và sự an toàn cho cộng đồng. Dạng thất thoát này xảy ra ở tất cả các công trình xây dựng như dân dụng, hạ tầng kỹ thuật, sản xuất...
- Thất thoát, lãng phí do công trình được xây dựng không phù hợp với nội dung và hình thức: Dạng thất thoát này biểu hiện ở chỗ có những công trình thì quá quan tâm đến nội dung bên trong như công năng sử dụng, chất lượng nội thất, công nghệ hiện đại, thiết bị mới...nhưng hình thức kiến trúc công trình không đẹp, không hài hoà với cảnh quan, hoặc không phản ánh được tính chất của công trình ví dụ như trụ sở cơ quan nhà nước lại giống trường học, nhà bảo tàng thì giống nhà văn hoá thiếu nhi, các công trình văn hoá dân tộc lại được xây mái bằng, cửa kính khung nhôm... Ngược lại cũng có những công trình được xây dựng có hình thức rất đẹp, được sử dụng nhiều loại vật liệu quý nhưng bên trong thì quá đơn điệu, dây chuyền công năng lủng củng, nội thất kém, dẫn đến giá trị sử dụng thấp.
- Thất thoát lãng phí do công trình xây dựng không đảm bảo cảnh quan, môi trường: Hiện nay có rất nhiều công trình được xây dựng lên đã phá vỡ cảnh quan xung quanh. Cũng có những công trình được xây dựng lạc lõng với các công trình kiến trúc xung quanh, nó phá vỡ sự thống nhất của không gian kiến trúc đã được hình thành, làm giảm mỹ quan đô thị. Việc các công trình xây dựng vi phạm các vấn đề về môi trường thường gặp ở các công trình công nghiệp. Do quá đề cao lợi ích kinh tế nên không tính đến tác hại làm ảnh hưởng đến môi trường như các nhà máy tẩy thuốc nhuộm thải nước chưa xử lý ra xung quanh, các nhà máy có thải khí độc lại được xây dựng ở đầu hướng gió và thành phố, các nhà máy thực phẩm không có hệ thống xử lý nước thải... tất cả đã gây nên những hậu quả  khó lường đối với môi trường và sức khoẻ cộng đồng và để khắc phục hậu quả đó thì phải tốn kém rất nhiều kinh phí.
- Thất thoát do công trình được đầu tư xây dựng thiếu đồng bộ: Đối với các công trình hạ tầng kỹ thuật thì việc xây dựng một tuyến đường giao thông thường không được xây dựng đồng bộ cả mặt đường, vỉa hè, đường ống cấp thoát nước, hệ thống cấp điện, hệ thống thông tin, trồng cây xanh nên đã dẫn đến việc đường vừa xây xong lại bị đào lên để làm đường ống cấp nước hoặc đường dây điện...không những gây lãng phí, thất thoát mà còn làm mất vệ sinh đô thị, ảnh hưởng đến việc đi lại của người dân. Hiện tượng này đến nay vẫn còn xảy ra rất phổ biến trên các tuyến đường trong đô thị. 
Trong những năm qua, để đáp ứng với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xây dựng chủ nghĩa và đáp ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hạn chế thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh, nhất là trong lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng nhằm mục tiêu khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư, sản xuất kinh doanh phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đồng thời sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước và huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, hướng tới đảm bảo xây dựng theo quy hoạch được duyệt, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong xây dựng, áp dụng công nghệ tiên tiến, đảm bảo chất lượng và thời hạn xây dựng với chi phí hợp lý, thực hiện bảo hành công trình.
Do đó, để khắc phục tình trạng lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng hiện nay, ngày 26/1/2003 Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ tư đã biểu quyết thông qua Luật Xây dựng và có hiệu lực từ 1/7/2004. Đây là văn bản pháp lý cao nhất trong lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, luật hoá các quy phạm trước đó đã đi vào cuộc sống, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển ngành xây dựng, tạo khuôn khổ pháp lý cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng phát triển. Lần đầu tiên Luật Xây dựng cho phép thay đổi quy chế về đầu tư xây dựng thành quy định riêng, tách khỏi các quy định chung về đầu tư. Đó là một bước tiến mới trong việc đổi mới cơ chế, chính sách và là nguyên nhân sâu xa để đổi mới một bước trong các quy định về phân cấp quản lý đầu tư và xây dựng công trình mà Quốc hội yêu cầu. Sự điều chỉnh đó là phù hợp với tiến trình đổi mới cơ chế quản lý nói chung nhằm từng bước chuyển dịch cơ cấu đầu tư và quản lý xây dựng đi theo trình tự và cơ chế thị trường, góp phần đưa công tác quản lý đầu tư và xây dựng đi vào nề nếp, tháo gỡ dần những vướng mắc, tồn tại trong xây dựng cơ bản khi chuyển đổi từ cơ chế kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là tạo thuận lợi cho việc thực hiện chính sách mở cửa Nhà nước.